Lâm Bi Trần tinh thông đủ loại công pháp, nhưng sở trường nhất và cũng thường dùng nhất chính là Kiếm trận thuật, một môn pháp thuật mà hiếm người có thể tu luyện đến độ tinh sâu. Trong số những kiếm tu chính thống của Tiên minh, kẻ đủ sức so tài cao thấp với hắn về Kiếm trận thuật chỉ có thể đếm trên đầu ngón tay, chỉ có vài vị đại năng bậc Hóa Thần mà thôi.
Luyện kiếm vốn đã là khổ tu, nhưng học Kiếm trận lại chính là nỗi gian khổ trong những sự gian khổ, chẳng những phải thuộc nằm lòng ba nghìn cuốn điển tịch, mà còn cần một nguồn linh lực thâm hậu để chống đỡ và duy trì trận pháp. Đương nhiên, việc khống chế linh lực cũng phải đạt đến độ chuẩn xác đến từng hào ly. Khi bước vào thực chiến, người luyện phải điều khiển chuẩn xác một lượng linh lực khổng lồ để bày trận trong khoảng thời gian ngắn nhất, bằng không sẽ bị đối phương thần tốc vung một chiêu chém làm hai nửa ngay tức khắc.
Lâm Bi Trần am tường ba nghìn kiếm trận, đặc biệt là sở trường bày những đại trận quy mô lớn, khi ấy trên tay hắn sẽ đeo những chiếc nhẫn huyền thiết để hỗ trợ vẽ trận. Linh lực truyền qua những chiếc nhẫn linh dị ấy rồi khuếch tán thành hàng nghìn luồng khí, đan xen chằng chịt nhưng lại vô cùng chuẩn xác để tạo nên những đường trận văn đầy phức tạp.
Tạ Chiết Ngọc nhắc đến việc đeo nhẫn vốn là để mỉa mai việc bản thân đang bị trang điểm quá đà, thế nhưng người nói vô tình, kẻ nghe lại hữu ý.
Tuyết Trung Hối một tay nắm lấy hai cổ tay y cười khẽ: "Không cần đâu, thế này là được rồi. Đừng để lấn át cả chủ nhân."
Đỗ Bỉnh Nghĩa cũng tán thành.
Tuyết đã ngừng rơi, bấy giờ đã là giờ Tỵ bốn khắc, ba người họ một lần nữa bước vào trận pháp dịch chuyển.
Chuyến dịch chuyển lần này dài gần năm trăm dặm, khi tới nơi, Tạ Chiết Ngọc mệt đến mức hơi thở dồn dập nặng nề, y chẳng chịu nổi mà tháo luôn cả mũ sa ra, bước chân có phần bủn rủn, song vẫn còn gượng chống đỡ được.
Y chẳng muốn Tuyết Trung Hối cứ dìu dắt mình như dìu một ông lão, mà nhất quyết đòi tự đi. Ngọc bội xâu chuỗi trên người vang lên những tiếng leng keng lanh lảnh, chỉ có điều, cái chân phải của y lê đi trông có vẻ rõ rệt hơn một chút.
Đỗ Bỉnh Nghĩa đứng ở phía sau quan sát y, nhìn vào gương mặt ấy, quả nhiên là vô cùng đẹp mắt. Nhưng khi nhìn xuống cái chân thọt kia, lại thấy vô cùng gai mắt.
...
Nửa canh giờ sau, lão Đàn chủ của phân đàn là Lữ Đậu Ông đã đi tới, bốn người họ cùng vây quanh bàn trà rồi ngồi xuống.
Lão Đàn chủ tu vi chẳng cao, dẫu tuổi tác có phần lớn hơn ba người bọn họ nhưng vẫn gọi một tiếng "ba vị Thượng tiên". Ông lão nhỏ thó với gương mặt đầy vẻ mệt mỏi ấy đang cố gượng dậy tinh thần, giải thích cho bọn họ nghe về những chuyện dị thường xảy ra gần đây.
Tại địa phương huyện Chú Phong có một gia đình thợ rèn danh tiếng, nhà nọ vốn là tứ đại đồng đường, từ nam chí nữ đều sở hữu tay nghề rèn đúc tài hoa. Một tháng trước, chàng thanh niên mười chín tuổi trong nhà đã rước về một cô nương cùng tuổi ở huyện khác. Cả hai vốn là thanh mai trúc mã, gia cảnh tương xứng, dẫu chẳng phải đại phú đại quý nhưng cũng thuộc hàng sung túc, dư dả.
Điều quan trọng chính là diện mạo của cả hai từ nhỏ đã vô cùng nổi bật, người thì tuấn tú, kẻ lại xinh đẹp, khi đứng cạnh nhau trông cực kỳ xứng đôi vừa lứa. Phía chính giữa má phải của chàng thanh niên và má trái của cô nương vừa vặn đều có một nốt ruồi nhỏ, người quanh vùng đều ngợi khen họ là một đôi "Song Chí Mỹ Nhân".
Thân bằng quyến thuộc hai bên đều vô cùng mãn nguyện với cuộc hôn nhân này. Đám cưới được tổ chức linh đình vào tháng trước, tất cả những người có danh tiếng địa vị trong vùng đều tới chung vui, chiêm ngưỡng mối lương duyên của đôi trai tài gái sắc này.
Nào ngờ bảy ngày sau đại hỉ, tân nương không may vấp ngã trong xưởng rèn, lúc ngã xuống vô tình va phải một lưỡi dao nhỏ khiến cổ họng bị cứa đứt, mất mạng ngay tại chỗ. Tân lang cứu chữa không kịp, bèn nhặt lấy con dao ấy mà tự sát, đi theo tân phụ.
Đám tang này cũng gây chấn động chẳng kém gì hỉ sự ngày hai người kết tóc se duyên, thân bằng quyến thuộc cùng xóm làng láng giềng ai nấy đều vô cùng đau đớn.
Vốn dĩ đây chỉ là một chuyện đáng tiếc nơi nhân gian, nào ngờ trong phân đàn có một đệ tử thầm thương trộm nhớ tân nương đã khuất kia từ nhiều năm nay, khi nghe tin dữ thì không tài nào chấp nhận nổi, trong một phút bốc đồng lại muốn thi triển thuật chiêu hồn, mong được gặp lại linh hồn nàng thêm một lần.
Thế nhưng sau khi vắt kiệt linh lực cùng khí huyết để lập nên Chiêu Hồn Trận, vậy mà cuối cùng lại chẳng chiêu gọi được bất cứ thứ gì.
Chiếu theo quy luật tự nhiên của Thiên đạo, trong vòng bảy ngày sau khi con người qua đời, hồn phách vẫn còn tồn tại, không thể nào lại chẳng chiêu dẫn được gì.
Hoặc có thể ngày tân nương thực sự lìa đời đã quá bảy ngày, cũng có thể là hồn phách nàng đã bị nuốt chửng mất rồi.