Tần Anh nghiêm mặt gật đầu, và rồi vẻ mặt của Ngô Thư Nguyệt cũng trầm xuống. Nàng ta chậm rãi xoay người, đưa mắt nhìn quanh con thuyền hoa này, một lúc lâu sau mới cất giọng xa xăm hồi tưởng: "Hôm đó, trên tầng ba này chỉ có một mình ta, những người khác đều đang dự tiệc rượu ở hoa các tầng một. Lúc ta đi xuống, phần lớn mọi người đều đang cùng Triều Hoa Quận chúa đấu thơ uống rượu, chỉ có... chỉ có khoảng bốn năm người không có mặt ở tiệc. Bọn họ có lẽ đã ra đuôi thuyền ở tầng một, hoặc cũng có thể đang nói chuyện trong sương phòng ở tầng hai..."
Nghe vậy, Tần Anh không kìm được lòng hỏi: "Những người không có mặt ở tiệc là ai vậy?"
Ngô Thư Nguyệt cố gắng nhớ lại, một lát sau, nàng ta mới chắc giọng nói: "Mấy người khác thì ta không chắc, nhưng có một người thì ta nhớ rất rõ. Hơn nữa, người này Huyện chúa cũng quen biết..."
-
Quá nửa giờ Dậu, cơn mưa nhỏ vừa tạnh, Tạ Tinh Lan với vẻ mặt sa sầm bước ra từ Hồng Lư Tự.
Tạ Vịnh đứng bên cạnh nói: "Công tử, Hồng Lư Tự cũng không tìm thấy bản vẽ. Lẽ nào thật sự giống như lời vị Chủ bộ lúc nãy nói, bản vẽ đã bị làm mất rồi sao?"
Tạ Tinh Lan nheo mắt lại: "Ngươi có nhớ hôm qua khi chúng ta ở Lễ Bộ, lúc không tìm thấy bản vẽ, vị Viên Ngoại Lang đó đã nói thế nào không?"
Tạ Vịnh ngập ngừng đáp: "Lễ Bộ cũng không tìm thấy bản vẽ của Hoàng Đình. Nhưng vị Viên Ngoại Lang đó có nói, bản vẽ rất có thể đang ở một nha môn khác. Ông ta còn nói bản vẽ của Hoàng Đình vô cùng quý hiếm, nếu sau này có tặng cho người nào đó, thì rất có thể bản vẽ vẫn nằm trong tay chính Hoàng Đình."
Nói đến đây, Tạ Vịnh bỗng bừng tỉnh: "Người ở Hồng Lư Tự này có vấn đề. Bản vẽ của Hoàng Đình quý giá như vậy, dù là để chối bỏ trách nhiệm, ông ta cũng nên nói bản vẽ đang ở nơi khác. Vậy mà ông ta lại một mực khẳng định là đã bị mất..."
Tạ Tinh Lan cười lạnh một tiếng: "Đi điều tra vị Chủ bộ này. Sẵn tiện điều tra cả thành tích chính trị, uy tín quan trường cũng như mọi chuyện lớn nhỏ trong hậu trạch của Hồng Lư Tự Khanh Phó Trọng Minh mấy năm gần đây. Hễ thấy có gì kỳ lạ, đều phải bẩm báo lại hết."
Tạ Vịnh vâng lệnh, rồi lại hỏi: "Người đi mua đồ cúng tế vẫn chưa tìm được. Phủ Uy Viễn Bá và phủ Giản Thượng thư gần đây đều không có ai đến ngày giỗ. Thuộc hạ đã đến mấy phủ khác hỏi, họ cũng nói không có ai đến ngày giỗ. Bây giờ phải làm sao ạ?"
Tạ Tinh Lan thản nhiên đáp: "Hoặc là thật sự không có chủ tử nào đến ngày giỗ, nha đầu đi mua đồ cúng kia là người hầu trong nhà cúng tế cho người thân của mình, vậy thì không liên quan đến vụ án. Nhưng cũng có khả năng, là có kẻ đang nói dối."
Màn đêm dần buông, Tạ Tinh Lan liếc nhìn sắc trời rồi nói: "Cứ cho người để mắt tới, bây giờ cứ điều tra chuyện của Hồng Lư Tự trước đã."
Tạ Vịnh đáp lại. Tạ Tinh Lan vung roi ngựa, phi thẳng về phía Tạ Thị Tướng Quân Phủ ở phường An Chính.
Giang Châu Tạ thị vào thời tiền triều từng vô cùng danh giá. Gia tộc này không chỉ sản sinh ra nhiều vị Tể tướng và Hoàng hậu, mà môn sinh và bằng hữu cũ cũng trải rộng khắp thiên hạ. Nhưng đến bản triều, có quá nhiều thế gia vọng tộc đã theo hoàng thất họ Lý gây dựng giang sơn. Bọn họ lần lượt được phong Hầu bái Tướng, còn Tạ thị lại dần dần suy vi. Mãi cho đến khi Tạ Chính Tắc bỏ văn theo võ, dùng quân công mà được tiên đế ưu ái, Tạ gia mới có được chỗ đứng trong giới quý tộc kinh thành.
Ông tuổi còn trẻ đã được phong làm Tam phẩm Phiêu Kị tướng quân trấn thủ Nguyên Châu. Trong trận loạn ở Phong Châu vào năm Trinh Nguyên thứ ba, ông là người đầu tiên dẫn quân bắc tiến cần vương, sau đó cùng với Định Quốc Đại tướng quân Trịnh Minh Khang đánh tan quân phản loạn. Kể từ đó, Tạ Chính Tắc chính thức trở thành cánh tay trái tay phải của Trinh Nguyên Đế. Thế nhưng, danh vọng mà Tạ Chính Tắc vất vả gầy dựng trong quân ngũ lại nhanh chóng bị chính thủ đoạn hãm hại trung lương của ông hủy hoại.
Bấy giờ, Trinh Nguyên Đế đang đấu pháp với phe phái của Trịnh Thái hậu. Thủ đoạn tàn nhẫn và quyết liệt của Tạ Chính Tắc vừa hay lại là con dao sắc bén nhất trong tay hoàng đế. Ông được phong làm Kim Ngô Vệ Thượng tướng quân, thay hoàng đế diệt trừ phe đối lập, gây thù chuốc oán vô số trong triều.
Tạ Tinh Lan được ông nhận nuôi chính vào năm ông mang tiếng xấu nhất.
Đến khi ông qua đời, không một ai còn nhớ đến công lao chinh chiến sa trường của ông nữa. Chỉ một câu "nanh vuốt của triều đình, gian thần lộng quyền" là đủ để đóng đinh ông lên cột mốc ô nhục của sử sách.