Quỳnh không phải kiểu người xù lông nhím vô cớ, ra ngoài lăn lộn mấy năm, lại làm ăn buôn bán, tiếp xúc đủ hạng người, tuy học vấn không cao nhưng cô vẫn có sự tu dưỡng và mắt nhìn người cơ bản, tốt xấu vẫn có thể nhìn ra được qua vài câu nói.
Thấy Đại đứng dậy đi lấy bát đũa, Quỳnh cũng đi rửa tay sạch sẽ rồi ngồi xuống.
Một lát sau, ba người ngồi trên những chiếc đôn gỗ mòn vẹt quanh chiếc bàn ghép bằng ván gỗ tạp để ăn sáng. Bà Cúc vừa cắn một miếng bánh giòn tan, vị ngọt của bột gạo hòa quyện với chút mỡ béo ngậy, bà đã tấm tắc khen:
“Ngon quá! Bánh này làm khéo thật, vỏ giòn mà trong mềm, ngon miệng! Đại, vợ mày khéo tay đấy! Chẳng bù cho con vợ thằng Tú, nấu canh toàn mùi nước lã.”
Đại nghe cô khen vợ mình, mặt mày hớn hở, cười tít mắt: “Cô à, Quỳnh là một cô gái tốt lắm đấy ạ. Cô ấy còn biết nhiều thứ lắm.”
Bà Cúc vừa ăn vừa chau mày, giọng trầm xuống vẻ nghiêm trọng: “Nghe nói hôm qua mụ dì ghẻ của mày đến gây sự với mày à? Lại còn đòi đuổi cháu dâu đi?”
Bà đang nói đến ai, Đại đương nhiên hiểu rõ. Đó là người mẹ kế cay nghiệt của anh.
Cha anh chỉ có người em gái ruột duy nhất là cô Cúc. Từ nhỏ cha đã dặn anh sau này phải đối xử tốt với cô, vì cô là người duy nhất trong nhà quan tâm, bảo vệ cha anh khỏi sự chèn ép của ông bà nội thiên vị.
Hơn nữa, sở dĩ cha anh có thể cưới được mẹ anh về núi sau khi dốc hết tiền lo cho chú hai cưới vợ một năm, là vì cô Cúc đã chấp nhận gả mình cho dượng, lấy về cho ông nội năm quan tiền sính lễ để cha có tiền cưới vợ. Sự hy sinh đó cha anh không bao giờ quên.
Nhà dượng cũng ở trong làng, nhưng ở bên kia sườn núi, đi lại cũng mất cả buổi.
Đại từng nghe nói cô mình là người rất tháo vát, mạnh mẽ, gánh vác cả gia đình chồng. Nhưng dượng lại có tính cách yếu đuối, hiền lành, hồi trẻ làm lụng vất vả quá sức để trả nợ nên bây giờ sức khỏe không tốt, dăm bữa nửa tháng lại đổ bệnh, cha dặn anh lớn lên phải hiếu kính với cô như mẹ ruột.
“Vâng, bà ấy đòi đuổi Quỳnh đi, còn nói cháu không nghe lời, dọa sẽ đi tìm ông nội để dạy dỗ cháu, nói cháu bất hiếu.”
Lòng dạ của người mẹ kế này ngày càng độc ác! Đã chiếm hết tài sản, giờ còn muốn phá hoại hạnh phúc của con chồng.
Đứa cháu trai lớn của mình vất vả từng này tuổi mới tìm được vợ, mà bà ta lại muốn đuổi người ta đi?
Bà ta có ý đồ gì đây? Muốn nó sống cô độc cả đời để làm trâu ngựa cho con bà ta sai bảo sao?
Mặt bà Cúc sầm lại, đập mạnh đôi đũa xuống bàn, khuôn mặt vốn đã đen sạm vì lao động nay lại càng tối hơn vì giận dữ:
“Mai tao đi tìm ông nội mày! Cái nhà này chưa đến lượt mụ ấy làm chủ! Mụ đã ép gả đi một đứa cháu gái của tao, món nợ này tao còn chưa tính xong với mụ, giờ lại dám đến gây sự với mày nữa? Hừ! Đại, chuyện này mày đừng lo, cứ để cô lo liệu! Để xem mụ ta già mồm hay tao già đòn!”
Lúc nãy Quỳnh không mấy thiện cảm với bà Cúc vì hành động thô lỗ, nhưng chỉ một lúc sau nghe những lời bênh vực đanh thép này, cô đã có cảm tình với người cô ruột này! Bà ấy thật sảng khoái, yêu ghét rõ ràng.
Hay!
Quỳnh thầm giơ ngón tay cái cho người phụ nữ mạnh mẽ bà Cúc, rồi lên tiếng ủng hộ:
“Cô đúng là cô ruột có khác! Phải dạy cho bà ta một bài học nhớ đời cô ạ!”
Bà Cúc đang xúc động bỗng bật cười trước lời khen và vẻ mặt hào hứng của Quỳnh:
“Phì! Con bé ranh mãnh này, cô đương nhiên là cô ruột rồi, chẳng lẽ thằng Đại không nói với cháu à? Cô cháu mình tính cách giống nhau đấy, không chịu để người ta bắt nạt đâu.”
Hai ngày nay Đại chỉ mải nghĩ cách dỗ dành vợ, sợ cô bỏ trốn, thật sự đã quên nói cho cô biết về các mối quan hệ phức tạp trong nhà. Anh thoáng chột dạ, gãi đầu cười trừ rồi vội lảng sang chuyện khác:
“Cô cũng đừng đi làm gì vội, ông nội không hồ đồ đến mức đó đâu. Chuyện nhỏ thì ông có thể chiều bà ấy cho êm cửa êm nhà, chứ chuyện lớn liên quan đến hương hỏa thế này ông chắc chắn không đồng ý đâu. Hôm qua cô lên trấn làm gì vậy ạ? Mấy hôm nay dượng có khỏe hơn không?”
Nhắc đến chồng, bà Cúc thở dài sườn sượt, vẻ mặt lo âu: “Cái thân già của ông ấy, tuổi càng cao sức càng yếu như ngọn đèn trước gió. Mấy hôm trước đi làm đồng về bị say nắng mà sốt li bì mấy ngày, người nóng hầm hập mà cứ kêu rét, hôm qua cô lại lên trấn lấy ba thang thuốc bắc, xem có đỡ hơn không.”
Trong làng có một ông thầy lang vườn, xem mấy bệnh vặt đau bụng nhức đầu thì được, chứ bệnh nặng dai dẳng là phải lên trấn tìm thầy giỏi bốc thuốc.
“Thầy lang trên trấn nói sao ạ?”
Bà Cúc cắn một miếng bánh nữa, nhai chậm rãi: “Vị này ngon thật, thơm mùi hành. Còn nói sao được nữa, thầy lang bắt mạch rồi chỉ bảo uống thuốc thôi, tốn kém lắm. Ông ấy bảo xem mấy hôm nữa trời mát mẻ hơn, khí huyết lưu thông, có khi sẽ khỏi.”
Say nắng không phải bệnh gì to tát với người khỏe, nhưng với người yếu sẽ khiến người ta đau đầu như búa bổ, mệt mỏi rã rời, chân tay bủn rủn.
Nghe hai người nói chuyện về triệu chứng bệnh, Quỳnh không nhịn được xen vào: “Sao không cạo gió ạ? Cạo gió giải cảm có khi nhanh khỏi hơn uống thuốc đấy ạ.”
“Cạo gió? Đó là cái gì? Nghe lạ tai thế?” Bà Cúc ngơ ngác hỏi.
Đại biết Quỳnh của mình không phải người trong làng, xuất thân bí ẩn, kiến thức của cô rộng hơn anh nhiều, thế là anh lập tức nhìn Quỳnh với đôi mắt sáng rực đầy ngưỡng mộ:
“Em à, em biết y thuật sao? Vợ anh giỏi quá!”
Biết cạo gió mà cũng gọi là biết y thuật sao?
Nếu y thuật trên đời này đơn giản như vậy, thì người ta còn mở bệnh viện, trường y làm gì?
“Không biết đâu ạ, chỉ là mẹo dân gian thôi. Ở quê cháu, nếu ai bị cảm nắng, trúng gió độc, người ta sẽ bôi chút dầu ăn hoặc mỡ trăn lên cổ, lưng và sống mũi, rồi dùng miệng bát sành hoặc đồng xu bạc để cạo nhẹ dọc theo sống lưng và các kẽ xương sườn. Cạo đến khi da nổi lên những vệt đỏ sẫm hoặc tím bầm là khí độc được thải ra, lúc đó người sẽ thấy nhẹ nhõm, hết đau đầu ngay.”
Ngay lập tức, bà Cúc mắt sáng lên, nhét nốt miếng bánh vào miệng, đứng phắt dậy kéo tay Quỳnh định lôi cô đi:
“Cháu dâu, hay quá! Vậy cháu mau đi cạo gió giúp dượng đi! Cô nhìn ông ấy nằm rên hừ hừ mà xót ruột quá.”