Thì ra là vậy. Anh ta lo xa cho cô.
Trong lòng đã nguôi giận, cảm thấy chút ấm áp len lỏi, Quỳnh khịt mũi, cố tình trừng mắt nhìn Đại, nói một cách đanh đá để che giấu cảm xúc:
“Thế nào là tiêu hoang? Đời người có hai việc chính là ăn và mặc, việc ăn uống phải đặt lên hàng đầu, có thực mới vực được đạo, anh không biết à? Với lại, vợ không tiêu tiền, thì anh định kiếm tiền cho ai tiêu? Trong một năm này mà anh không nỡ chi tiền cho tôi ăn ngon mặc đẹp, coi chừng tôi bắt anh quỳ gối trên bàn chông chịu phạt đấy.”
Đại không biết “quỳ gối chịu phạt” là gì, anh thầm nghĩ: Chẳng lẽ đây là kiểu phạt chỉ có người trên chợ huyện mới biết? Hay là phong tục quê vợ?
Đám trai tráng trong làng này chỉ biết hát giao duyên để dỗ vợ thôi.
Nhưng vẻ hờn dỗi, nũng nịu đáng yêu này của vợ nhỏ khiến anh rất thích thú, tim đập thình thịch. Đại sáng mắt lên:
“Vợ, anh nhất định sẽ cố gắng kiếm tiền cho em tiêu, em muốn ăn gì anh cũng mua. Em đừng chinh phục anh bằng cách dọa nạt nữa, để anh chinh phục em có được không? Ngày mai anh sẽ lên núi săn thú, kiếm con lợn rừng to, đợi gặt lúa nương xong, anh sẽ xay bột gạo ngon cho em làm bánh, được không?”
Còn ra vẻ ta đây à!
Quỳnh liếc Đại một cái sắc lẹm.
Lại còn muốn chinh phục tôi à? Mơ đi cưng! Cứ thử xem anh có bản lĩnh đó không!
Nghĩ đến chuyện ăn uống và nguồn lương thực, mắt Quỳnh bỗng sáng lên: Đúng rồi, chẳng phải anh có trồng mấy đám lúa nương sao? Lúa nương gạo dẻo thơm lắm.
Muốn ăn vài cân bột gạo ngon thì cần gì phải mua tốn tiền?
“Lúa nương đông xuân thu hoạch hồi đầu năm đâu rồi? Sao trong nhà không có chút lương thực dự trữ nào vậy? Chum vại trống trơn thế kia?”
Thu hoạch đầu năm?
Nhìn ánh mắt dò xét của vợ nhỏ, anh biết nếu không nói thật, lát nữa thể nào cũng bị bắt quỳ gối chịu phạt như cô vừa dọa.
Phạt thì không sao, vấn đề là anh không biết làm thế nào, lỡ làm sai vợ lại giận thêm!
Nếu vợ chịu nghe hát giao duyên thì còn được, anh có thể ngân nga vài câu tình tứ.
Nhưng anh chỉ sợ cô nhất quyết bắt anh chịu phạt kiểu lạ đời, nếu anh không làm thì sẽ không cho hôn nữa, thế thì hỏng bét, mất quyền lợi!
Để vợ không biết mình không biết cách “chịu phạt”, và cũng để tránh cơn thịnh nộ, Đại chột dạ vội nói: “Vợ à, lúa nương thu hoạch đầu năm... đều ở nhà chú Tú cả rồi.”
“Cái gì?” Quỳnh nghe vậy nhíu mày, giọng cao vút: “Lúa nương anh trồng vất vả lại để ở nhà thằng Tú à? Thế anh ăn gì? Chẳng lẽ bình thường anh ăn chung với nhà nó? Tôi thấy bếp nhà anh lạnh tanh mà.”
Cô em dâu lười biếng, chua ngoa đó mà chịu nấu cơm cho anh ăn chắc?
Đại vội lắc đầu nguầy nguậy: “Không, không có, thỉnh thoảng anh qua lấy một ít về nấu, còn bình thường xuống chợ huyện bán hàng thì anh tự mua bánh ăn hoặc ăn ké nhà chú Sinh...”
“Cái gì? Lương thực mình đổ mồ hôi sôi nước mắt trồng ra mà muốn ăn cũng phải sang nhà người ta ngửa tay xin lấy về à? Vô lý đùng đùng! Vậy ngày mai sang lấy ít lúa nương về đây, chúng ta xay bột làm bún ăn. Ngày nào cũng ăn cháo gạo giã toàn trấu này, lại ít rau xanh, cẩn thận táo bón, hỏng hết dạ dày đấy.”
“Cái đó... Vợ à... Chuyện này hơi khó...”
Nghĩ đến sự khó chịu, kêu ca của vợ chồng em trai mỗi khi anh sang lấy đồ, Đại lập tức khó xử, mặt nhăn nhó.
Quỳnh vẫn còn chút ấn tượng xấu về em trai của con trâu mộng này.
Ngày thứ hai cô đến, hai vợ chồng đó còn định phá cổng xông vào tìm thịt thú rừng, mắt la mày lét nhìn ngó khắp nơi. Chẳng lẽ lúa nương đã vào nhà em trai anh ta rồi thì như gió vào nhà trống, không lấy ra được nữa?
Nhìn vẻ mặt cam chịu của anh, Quỳnh đã chắc chắn suy đoán của mình.
Nếu là trước đây, Quỳnh có thể không quan tâm, anh ăn hay không, có no hay không cũng chẳng liên quan đến cô.
Con gái thời hiện đại tìm chồng đều yêu cầu không có nhà lầu xe hơi thì cũng phải có công ăn việc làm ổn định, tài chính độc lập. Cô không thể để mình bị người ta ăn sạch rồi mà đến cái bụng cũng không được no chứ?
Với lại, trong một năm này cô còn phải kiếm tiền, tích lũy vốn liếng. Nếu con trâu ngốc này vẫn như trước, coi nhà em trai như cái hố không đáy để lấp đầy, bao nhiêu công sức đổ xuống sông xuống biển, chẳng phải cô sẽ thành kẻ đổ vỏ, làm không công à?
Quỳnh không phải người độc ác, nhưng tuyệt đối không phải loại thánh nữ Bồ Tát cứu khổ cứu nạn cho kẻ lười biếng.
Từ nhỏ đã là trẻ mồ côi, phải tự bươn chải, lòng cô tuy không tăm tối nhưng chắc chắn cũng không phải là người rộng lượng, nghĩa hiệp gì với những kẻ không biết điều.
Quỳnh không thiếu lòng tốt đúng mực, nhưng cô thực sự không có tâm thế để làm một kẻ ngốc bị lợi dụng.
Hơn nữa, từ nhỏ Quỳnh đã hiểu rằng, trên đời này những người tốt bụng một cách mù quáng thường chết sớm hoặc chịu thiệt thòi. Nếu cô không gặp được ông bà nội tốt bụng, lại thêm ông bà cũng là người mạnh mẽ, quyết đoán, thì gia đình họ, một già một trẻ, có sống được đến ngày hôm nay hay không vẫn còn là một dấu hỏi lớn.
“Cái đó cái gì? Sao nói chuyện cứ ấp a ấp úng như gà mắc tóc thế, chẳng lẽ anh không lấy được lương thực của mình về à? Hay họ nuốt hết rồi?”
Đại thực sự có chút khó xử, cúi đầu lí nhí: “Vợ à, hôm qua anh đã sang nhà em dâu đòi lương thực rồi, định lấy ít về nấu cháo cho em, nhưng cô ta nói đã ăn hết rồi...”
Lúa nương thu hoạch từ tháng năm, mới chưa đầy ba tháng đã ăn hết sạch cả kho? Người trồng lúa lại không có hạt nào vào bụng.
Đúng là một đôi vợ chồng lòng lang dạ sói, ăn tàn phá hại!