Đó là nước đã được pha linh tuyền, đương nhiên vừa mát vừa ngọt.
Tạ Trục Ngọc trầm mặc nhìn ống tre thô ráp trong tay.
Từ nhỏ hai người họ đã không ưa nhau. Hai người cùng học ở Quốc Tử Giám, lần nào Tống Phó Tuyết cũng đứng đầu, ông ta thì muôn đời hạng hai. Người ngoài chỉ nhớ đến Tống Phó Tuyết, nào ai còn nhớ đến Tạ Trục Ngọc.
Ông ta vẫn nhớ như in ngày trạng nguyên du phố: tóc đen áo đỏ, cưỡi ngựa cao lớn, dung mạo tuấn tú thanh nhã. Trên gương mặt nam nhân ấy là nụ cười kiêu hãnh nhưng tiết chế, ánh mắt ấm áp mà xa cách lướt qua đám đông phàm tục.
Giờ đây, Tống Phó Tuyết đã trở thành một người bình thường.
Trên mặt, trên tay ông đều là sẹo đã đóng vảy, ông khoác áo vải thô. Dưới ánh nắng hè gay gắt, sắc mặt ông còn trắng hơn tuyết.
Tạ Trục Ngọc uất ức uống một ngụm nước.
Quả nhiên rất ngọt, ông ta nhịn không được uống hết ngụm này đến ngụm khác.
Rõ ràng ông ta có rất nhiều lời muốn nói, nhưng biết quanh đây có người giám sát, ông ta không dám thốt ra nửa câu, chỉ đành hung hăng nói: “Ngày nào đó ngươi không có cơm ăn thì đến tìm tiểu gia. Chỉ cần dập đầu hai cái, may ra ta thưởng cho ba lạng bạc mua gạo về nấu.”
Tống Phó Tuyết: “…”
Khóe miệng ông giật giật, ông bất lực xua tay: “Ta có chết cũng không đi cầu ngươi, mau cút đi.”
Nhà họ Tạ chưa bị hoàng đế thanh trừng thì cứ yên phận mà sống, cần gì dính líu vào chuyện nhà họ Tống.
Lỡ đâu có kẻ nhớ lại giao tình giữa hai nhà Tống - Tạ rồi kéo cả nhà họ Tạ xuống nước thì sao?
Ông không muốn liên lụy Tạ Trục Ngọc. Từ ngày nhà họ Tống gặp nạn, mặc cho Tạ Trục Ngọc bắt chuyện thế nào, ông cũng không chịu đáp lại.
Ông biết ông ta tức giận, khó chịu, nhưng ông cũng chẳng còn cách nào khác, chỉ mong ông ta được bình an.
Tạ Trục Ngọc ném lại hai đồng tiền, hầm hầm xoay người lên ngựa.
Tiếng vó ngựa lộc cộc vang lên, ông ta ngoái đầu nhìn lại, cuối cùng vẫn nuốt hết mọi lời vào trong.
Dù nhà họ Tạ… Có binh quyền, nhưng chỉ cần không muốn tạo phản thì cũng chỉ có thể ngoan ngoãn thu mình. Tạ Trục Ngọc hiểu, nhưng không giúp được tri kỷ, trong lòng cảm thấy đau đến khó chịu.
Ông ta không cam tâm.
Ông ta nhìn bạn bè chịu khổ chịu tội, dù ông ta được ăn thịt cũng chẳng thấy ngon.
Dẫu ông ta là thế tử phủ tướng quân, xuất thân cao quý, địa vị cao sang, nhưng lại chẳng giúp được chút gì.
Tạ Trục Ngọc chỉ hận bản thân bất lực.
*
Hai người bán hết bánh nhân, Tống Miên thu dọn sạp hàng, lại phát hiện bên dưới có thêm một thỏi bạc. Nàng quen tay nhét vào túi, thầm nghĩ: Chắc hẳn Tống Chuẩn là một vị thủ phụ rất tốt. Người đã đi, trà đã nguội, chính sách bị hoàng đế và tân thủ phụ lật bỏ, vậy mà vẫn còn nhiều người sẵn lòng giúp đỡ ít nhiều.
“Phụ thân, con vốn định mua cho mỗi người một bộ đồ hè, nhưng tính ra hơn một tháng nữa là sang thu rồi, hay mình mua luôn đồ thu dày dặn một chút.”
Tiền trong nhà có hạn, một đồng cũng phải bẻ đôi mà xài.
Tống Phó Tuyết không có ý kiến gì, gật đầu đồng ý.
“Con đừng hiểu lầm Tạ thúc. Ông ấy muốn giúp chúng ta, nhưng sợ bị hoàng đế phát hiện rồi liên lụy đến gia đình, nên chỉ có thể dùng cách đó.”
“Con biết mà. Người ta muốn sỉ nhục người khác thường sẽ dùng lời nói hay nắm đấm, ít ai lại ném tiền.”
Hai người đẩy xe đến tiệm vải. Thật ra ở nhà dân thường, nữ nhân tự dệt vải may áo sẽ tiết kiệm hơn, nàng vẫn nghe thấy tiếng khung cửi lạch cạch trong thôn Tống gia.
“Muốn loại vải nào?”
Ánh mắt Tống Miên lướt qua những tấm vải đẹp đẽ, cuối cùng nàng vẫn quay về với loại vải bông mộc mạc nhất: thoải mái, bền, không phô trương, rất hợp với thân phận tội thần của họ.
Thế là đủ rồi.
“Một cây vải này may được mấy bộ?” Tống Miên hỏi.
Chưởng quầy thấy nàng không rành, nhanh chóng giải thích tỉ mỉ: với vóc dáng như nàng thì may được hai bộ, còn dư vải may thêm hai chiếc áo khoác; còn với vóc dáng như phụ thân nàng thì chỉ đủ hai bộ.