Chiếc sô pha rất nhỏ, một người ngồi thì thoải mái, hai người thì quá chật chội, Nhan Dục Trì dứt khoát ngồi bệt xuống đất. Hắn trầm ngâm suy nghĩ: “Bị thiên lôi đánh sao? Đối với tình trạng hiện tại của đệ ấy có ảnh hưởng lớn không?”
“Dù đã thuận lợi vượt qua luân hồi, nhưng hồn phách vẫn quá yếu, rất dễ bị câu ra ngoài cơ thể. Ta bắt buộc phải canh chừng cậu ấy.” Diêu Vấn Tân bất động thanh sắc thở dài.
Nhan Dục Trì nhìn ra vẻ mệt mỏi không thể che giấu nơi đáy mắt y, hắn không còn quậy phá nữa, chỉ hỏi khẽ: “Ngươi mất tích năm trăm năm, tái xuất hiện cũng chỉ vì chuyện này thôi sao?”
Diêu Vấn Tân giơ tay chỉnh lại sợi tơ hồng giữa các ngón tay, giọng nói không mặn không nhạt: “Vẫn là nói về chuyện Áp Bất Lô đi.”
Ngoài cửa sổ, bóng tối đã hoàn toàn bao trùm. Trong phòng thắp một ngọn đèn dây tóc vàng vọt, hắt lên khuôn mặt lạnh lùng không chút biểu cảm của Diêu Vấn Tân. Nhan Dục Trì dần thu lại ánh mắt khỏi gương mặt ấy, vẻ mặt trở nên nghiêm túc.
Hắn cong cong khóe miệng, lại khôi phục dáng vẻ cà lơ phất phơ như thường lệ: “Như tên bác sĩ Dương kia đã nói, Áp Bất Lô còn được gọi là Quỷ Tham. Người hiện đại cơ bản chỉ nghe danh qua sách cổ hoặc truyền thuyết, nhưng không phải vì nó là thứ hư cấu, mà bởi kẻ đi hái Áp Bất Lô cơ bản đều mất mạng, dần dà chẳng còn ai dám đi đào nữa.”
Diêu Vấn Tân trầm ngâm một lát rồi hỏi: “Vậy nó có liên quan gì đến Dương Kim Hoa?”
“Trong cuốn Thảo Dược Tính Bị Yếu có chép: ‘Đại náo dương hoa (Dương Kim Hoa), ăn vào có thể giết người, khiến người mê man bất tỉnh’. Công hiệu gây tê, giảm đau này tương đồng với Áp Bất Lô. Cho nên trong một thời gian dài, người ta dùng Dương Kim Hoa để thay thế cho Áp Bất Lô. Còn về tác dụng trị ho, bình suyễn mà chúng ta thấy bây giờ là do các viện nghiên cứu sau này tìm ra.”
“Ý của ngươi là... có kẻ đã tráo Áp Bất Lô vào vị trí của Dương Kim Hoa tại An Tế Đường?”
“Dương Kim Hoa tuy có gây tê, nhưng độc tính xa xa không bằng Áp Bất Lô.” Nhan Dục Trì hạ thấp giọng, ánh mắt lóe lên tia lạnh lẽo, “Áp Bất Lô không chỉ gây tê cơ thể, nó còn có thể khiến thần thức của con người lâm vào trạng thái ‘giả chết’. Ở trạng thái đó, hồn phách sẽ lỏng lẻo, cực kỳ dễ dàng bị người ta dùng thuật pháp nhổ ra khỏi xác.”
Với cùng một liều lượng, Dương Kim Hoa có lẽ chỉ dừng lại ở mức giảm đau, nhưng Áp Bất Lô lại khiến thần trí con người mê muội, ở mức độ nghiêm trọng thậm chí gây tê liệt dẫn đến tử vong.
“Cho nên, ba nạn nhân sở dĩ xuất hiện triệu chứng thất hồn là vì họ đã dùng Áp Bất Lô chứ không phải Dương Kim Hoa?”
Nhan Dục Trì đáp: “Chưa xác định được, còn phải xem liệu có thực sự tìm thấy Áp Bất Lô hay không.”
Ngay sau đó, hắn nở một nụ cười rạng rỡ nhưng đầy u ám, dường như thấu thị được câu hỏi tiếp theo của đối phương: “Áp Bất Lô thường ẩn mình trong những ngôi mộ cổ ẩm thấp bị xói mòn, hoặc dưới những lòng sông cổ đầy bùn lầy — Ngươi có nghĩ một bờ sông chất đầy xác chết chính là ‘giường ấm’ hoàn hảo cho thứ này không?”
Sắc mặt Diêu Vấn Tân lập tức trắng bệch.
Nhan Dục Trì tàn nhẫn bồi thêm một câu: “Năm trăm năm trước, dưới chân núi Tùng Ô, nơi biên giới Diêu Quốc, bờ sông Lang với hố chôn vạn người đầy rẫy Áp Bất Lô, ngươi đi mà tìm xem.”
Núi Tùng Ô — năm trăm năm trước vốn là ngọn thần sơn duy nhất tụ hội linh khí của trời đất. Trên núi có một vị chưởng môn nhân, nhưng vị này không phải chưởng quản môn phái nào, mà là người cai quản Sơn Môn (cánh cổng ngăn cách giữa trần gian và linh giới).
Sơn Môn vốn có hai đạo cửa. Những kẻ bơ vơ không nơi nương tựa, hay những đứa trẻ có tâm cầu đạo, đều có thể gõ cánh cửa thứ nhất để được Tùng Ô Sơn tiếp nhận làm ngoại môn đệ tử.
Trong số đó, kẻ nào có duyên hoặc mang mệnh cách đặc thù sẽ được đích thân Chưởng môn dẫn dắt qua cánh cửa thứ hai, trở thành nội môn thân truyền đệ tử. Và một trong số những thân truyền đệ tử ấy, trong tương lai sẽ là người kế nhiệm vị trí Chưởng môn cao quý.
Dòng sông Lang nằm ở phía Bắc núi Tùng Ô, cách đó chục dặm, chảy cuồn cuộn từ Tây Bắc sang Đông. Năm trăm năm trước, con người đã nương tựa vào dòng nước này mà sinh sống, tụ tập tại mảnh đất phong thủy linh khí đầy đủ để an cư lạc nghiệp.
Thế nhưng giờ đây, khi Diêu Vấn Tân bước ra từ Truyền Tống Trận, cảnh tượng trước mắt đã hoàn toàn thay đổi. Bờ bên kia chính là núi Tùng Ô, nhưng ngọn thần sơn ngày xưa vốn rạng rỡ thần quang giờ đây đã lịm tắt. Ngay cả bờ sông Lang, nhìn vào tầm mắt chỉ còn lại một màu hoang tàn và hiu quạnh.
Thành phố Tương bị dòng sông Lang và núi Tùng Ô tạo thành một rào cản tự nhiên, chia cắt thành hai nửa trên dưới không đồng đều. Phía Bắc kiến trúc thưa thớt, dọc bờ sông là dãy biệt thự thấp tầng nhưng chỉ lác đác vài ánh đèn, tình hình kinh doanh xem ra rất ảm đạm.
Hai bên bờ sông được kè bằng con đê cao chừng hai tầng lầu. Diêu Vấn Tân chống tay lên lan can đá rồi xoay người nhảy xuống. Dọc theo mép nước đi được vài bước, gương mặt y hiếm khi hiện lên vẻ mịt mờ.
Vật đổi sao dời, năm trăm năm thời gian vội vàng trôi qua, y đã không còn nhớ rõ cố thổ nằm ở phương nào.
Diêu Vấn Tân ngẩng đầu lên, vầng trăng tròn treo cao, sao trời lấp lánh, nhưng so với bầu trời đêm trên đỉnh Tùng Ô năm xưa, ánh sáng này thực sự quá đỗi mỏng manh. Sau một hồi nỗ lực phân định phương hướng, cuối cùng y cũng dời bước đi về phía Tây.
Ánh trăng chiếu rọi mặt sông, sóng nước lấp loáng xô vào bờ. Diêu Vấn Tân bước thấp bước cao, khó khăn tiến về phía đích đến, nhưng khi ngước mắt lên nhìn, cảnh tượng bốn phía vẫn không có lấy nửa điểm khác biệt so với lúc nãy.
Thực chất, chính mắt y cũng chưa từng thấy qua hố vạn người năm ấy. Y chỉ nghe vị Chưởng môn đời trước kể lại rằng: Trận chiến cuối cùng giữa Diêu Quốc và Sở Quốc, năm ngàn tướng sĩ Diêu Quốc đối mặt với ba vạn quân địch đã thề sống chết không hàng. Sau ba ngày đêm chiến đấu kịch liệt, toàn bộ chiến sĩ đã tử trận. Thi thể họ bị vùi lấp bên bờ sông Lang, máu loãng từ trong đất chảy ra ròng rã không dứt, tạo thành hố vạn người oán khí ngút trời.
Diêu Vấn Tân quỳ một gối bên bờ sông, nhẹ nhàng áp lòng bàn tay sát vào mặt đất rồi nhắm nghiền mắt lại. Trên gương mặt vốn dĩ lạnh lùng, xa cách thường ngày, lúc này lại hiện lên một vẻ bi thương và thương xót không thể che giấu.
Linh lực từ lòng bàn tay y thẩm thấu xuống lớp bùn đất lạnh lẽo, tìm kiếm những mảnh linh hồn vụn vỡ của quá khứ. Một lát sau, Diêu Vấn Tân rút tay lại, đứng thẳng người dậy. Y đi quanh miếng đất vừa chạm tay vào vài bước theo chiều kim đồng hồ, sau đó lại bước ngược lại vài bước theo hướng đối diện, rồi trầm giọng quát lên một chữ:
“KHAI!” (MỞ!)
Ngay khi chữ "Khai" vừa dứt, mặt đất vốn đang tĩnh lặng bỗng chốc rực lên một vòng kim quang nhạt nhòa. Một cơn chấn động âm ỉ bắt đầu lan tỏa, từ những rung chấn nhỏ nhặt nhanh chóng trở nên dữ dội. Chim chóc và côn trùng ven bờ sông Lang dường như cảm nhận được luồng sức mạnh bất thường này, chúng hoảng loạn bay tán loạn, tìm đường tháo chạy khỏi vùng đất dữ.
Sâu dưới lớp bùn lầy, có thứ gì đó đang cựa quậy, co bóp như một sinh vật khổng lồ đang thức tỉnh. Mặt đất dưới chân Diêu Vấn Tân sụp xuống vài thước ngay sau cơn chấn động, để lộ ra một khoảng không tối tăm, nồng nặc mùi tử khí. Thứ bên dưới dường như đã không còn kiên nhẫn để ẩn mình thêm nữa.
Ngay sau đó, một tiếng "Xì" sắc lạnh vang lên xé toạc không gian. Từ trong lòng đất ẩm mục, một bàn tay trắng hếu, trơ xương cốt đột ngột đâm xuyên qua lớp bùn, vươn thẳng lên trời cao như muốn bám víu lấy chút ánh sáng le lói của vầng trăng tà!